Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2019

Thứ năm - 10/10/2019 14:47 289 0
Trong 9 tháng năm 2019 kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ được đà tăng trưởng. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng12,32% so năm trước; tổng mức bán lẻ hàng tăng 10,81% so với cùng kỳ; thu ngân sách ước 5.650 tỷ đồng, đạt 62,78% dự toán năm. Công tác giải quyết việc làm và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách xã hội được các cấp, các ngành hết sức quan tâm; công tác khám chữa bệnh được duy trì tốt; quốc phòng an ninh luôn đảm bảo, công tác giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội luôn được tăng cường.
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông, lâm nhiệp và thủy sản gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng tới việc gieo trồng cũng như năng suất và sản lượng cây trồng. Cụ thể: Tính đến ngày 15/9/2019 toàn tỉnh ước gieo trồng vụ Mùa được 28.237 ha, giảm 6,98% (-2.118 ha) so cùng kỳ; cây lâu năm ước tính hiện có 423.422 ha, tăng 0,81% so cùng kỳ.
Trên địa bàn tỉnh bệnh dịch tả lợn Châu Phi lây lan trên diện rộng với tổng số lợn tiêu hủy chiếm khoảng 1,6% tổng đàn. Tuy nhiên nhìn chung tình hình chăn nuôi luôn được duy trì, ngày càng khẳng định được vị thế và phát triển ổn định, toàn tỉnh hiện có 308 trang trại heo và gà, trong đó có 72/225 trang trại chăn nuôi heo và 40/83 trang trại chăn nuôi gà ứng dụng công nghệ cao, qua đó đã hình thành các chuỗi giá trị chăn nuôi như hệ thống của công ty CP, JapFa, Emivert, CJ, Choice Gentis, Cty Việt Phước, Hòa Phước… Số lượng gia súc, gia cầm gồm có: 13.139 con trâu, tăng 4,23% so cùng kỳ, sản lượng đạt 881 tấn, tăng 3,53% so cùng kỳ; 38.270 con bò, tăng 7,48% so cùng kỳ, sản lượng 2.025 tấn, tăng 3,0%; 797.342 con heo, tăng 44,16% so cùng kỳ, sản lượng 71.686 tấn, tăng 39,33% và 5.642 ngàn con gia cầm (trong đó đàn gà 5.409 ngàn con).
Ngành Lâm nghiệp có sự phát triển ổn định, công tác tuần tra, kiểm tra, quản lý bảo vệ, chăm sóc rừng được thực hiện thường xuyên, tình hình chặt phá lấn chiếm đất rừng không còn xảy ra. Đã phát hiện và xử lý 60 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và tổng số tiền thu nộp ngân sách là 343,5 triệu đồng. Diện tích rừng được trồng mới tập trung là 650 ha, tăng 168 ha so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 10.465 m3, sản lượng củi khai thác ước đạt 2.080 ster.
Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn được duy trì ổn định, không xảy ra dịch. Sản lượng thủy sản ước đạt 4.245 tấn, giảm 0,99% so cùng kỳ, trong đó thủy sản khai thác 327 tấn, giảm 0,99% so cùng kỳ, thủy sản nuôi trồng 3.918 tấn giảm 0,99% so với cùng kỳ.
Về chương trình xây dựng nông thôn mới: Được cấp ủy, chính quyền các cấp tích cực chỉ đạo, triển khai thực hiện và đưa ra các giải pháp phù hợp để các địa phương hoàn thành mục tiêu, kế hoạch đề ra. Kết quả toàn tỉnh đã có 35/90 xã đạt 19 tiêu chí và được công nhận xã nông thôn mới; còn lại: 19/90 xã đạt từ 15-18 tiêu chí; 31/90 xã đạt từ 10-14 tiêu chí; 5/90 xã đạt từ 5-9 tiêu chí. Đối với 13 xã phấn đấu về đích năm 2019, ước thực hiện đến hết tháng 9/2019 tiêu chí bình quân đạt 15,54 tiêu chí; Tỷ lệ các hộ dân ở khu vực nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 96,4%.
2. Sản xuất công nghiệp
Tình hình sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá, góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế của tỉnh, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục xu hướng phát triển chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu toàn ngành. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9/2019 ước đạt 106,73% so với tháng trước và 110,85% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,32% so với cùng kỳ năm. Trong dó, ngành chế biến duy trì tốc độ tăng trưởng cao 12,32%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,69%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,18%.
  Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ như: Sản phẩm in khác tăng gấp 3 lần; dịch vụ sản xuất giày, dép tăng 306,74%; bao bì và túi bằng giấy nhăn và bìa nhăn tăng 134,73%; vải dệt nổi vòng, vải sonin từ sợi nhân tạo tăng 83,58%; điện thương phẩm tăng 70,73%.
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 10,31% so với cùng kỳ; chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 66,72% so với cùng kỳ; chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp trong tháng 9/2019 tăng 5,44% so với tháng trước, giảm 6,15% so với tháng cùng kỳ, cộng dồn 9 tháng giảm 6% so với cùng kỳ.
Phát triển điện năng: Đã thực hiện phát triển được 70 km đường dây trung thế, 50 km đường dây hạ thế và 78.000 KVA dung lượng trạm biến áp; số hộ có sử dụng điện tăng thêm là 1.000 hộ, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện là 98,77%, đạt 99,97% so với kế hoạch.
3. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 9 tháng năm 2019 ước đạt 14.495 tỷ đồng, tăng 16,83% so với cùng kỳ, trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước 2.038 tỷ đồng, tăng 100,10% so với cùng kỳ và chiếm 17,47% tổng nguồn vốn; vốn ngoài nhà nước 9.393 tỷ đồng, tăng 9,21%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.159,4 tỷ đồng, tăng 100,23%.
4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Từ đầu năm đến nay có 829 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký 8.865 tỷ đồng, tăng 13,7% về số doanh nghiệp và giảm 12,7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018, đạt 69,08% kế hoạch năm. Tính đến nay, toàn tỉnh có 7.449 doanh nghiệp đăng ký thành lập với tổng số vốn đăng ký 67.532 tỷ đồng. bên cạnh đó cũng đã có 213 doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động, 194 doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh, 56 doanh nghiệp giải thể.
Về thu hút FDI: Toàn tỉnh đã thu hút được 27 dự án với tổng vốn đăng ký là 125,6 triệu USD, giảm 6,90% về số dự án và giảm 62,65% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ.
5. Thương mại, dịch vụ và giá cả
Tình hình lưu thông hàng hóa và dịch vụ ổn định. Mạng lưới thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh không ngừng gia tăng về số lượng, đầu tư đổi mới về cơ sở vật chất và hình thức kinh doanh. Đến nay đã có 60 chợ, 05 trung tâm thương mại và siêu thị hoạt động, cung ứng cho thị trường lượng hàng hóa dồi dào, phong phú về mẫu mã, chủng loại.
Tháng 9/2019 tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước thực hiện 4.096,5 tỷ đồng, tăng 1,56% so với tháng trước và tăng 15,56% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước thực hiện 35.073,2 tỷ đồng, tăng 9,32% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 28.484,3 tỷ đồng, tăng 10,81% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 3.779,9 tỷ đồng tăng 2,03%; du lịch lữ hành đạt 9,4 tỷ đồng, tăng 15,09%; dịch vụ đạt 2.799,6 tỷ đồng, tăng 5,08%.
Vận tải hàng hóa và hành khách cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và đi lại của người dân. Cụ thể: Vận tải hành khách trong tháng ước đạt 1.166,61 ngàn HK và 142,49 triệu HK.km, so với tháng trước tăng 0,11% về vận chuyển và tăng 0,08% về luân chuyển. Lũy kế 9 tháng, vận tải hành khách ước đạt 10.441,49 ngàn HK và 1.267,19 triệu HK.km, so với cùng kỳ tăng 1,87% về vận chuyển và tăng 2,57% về luân chuyển; vận tải hàng hoá ước đạt 278,48 ngàn tấn và 18,97 triệu T.km, so với tháng trước tăng 0,28% về vận chuyển và tăng 0,35% về luân chuyển. Cộng dồn 9 tháng, vận tải hàng hóa ước đạt 2.484,67 ngàn tấn và 168,91 triệu T.km, so với cùng kỳ tăng 1,73% về vận chuyển và tăng 1,86% về luân chuyển so cùng kỳ.
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng 9/2019 ước đạt 163,7 tỷ đồng, tăng 0,24% so với tháng trước và tăng 1,72% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.477,5 tỷ đồng, tăng 2,68%, trong đó: Vận tải hành khách đạt 903,6 tỷ đồng, tăng 3,05% so với cùng kỳ; vận tải hàng hóa đạt 552,7 tỷ đồng, tăng 2,34% so với cùng kỳ.
Tính đến tháng 9/2019 toàn tỉnh có tổng số 11 đơn vị kinh doanh dịch vụ chuyển phát trên địa bàn tỉnh với 142 điểm phục vụ bưu chính bán kính phục vụ bình quân là 3,86 km, đáp ứng 100% số xã được phục vụ bưu chính. Toàn tỉnh ước có 1.438.428 thuê bao điện thoại, trong đó: Điện thoại cố định 17.392 thuê bao; điện thoại di động trả sau 88.677 thuê bao; điện thoại di động trả trước 1.332.359 thuê bao; đạt 146,84 thuê bao/100 dân; tổng số trạm phát sóng thông tin di động: 1.663 trạm. Số thuê bao Internet 723.752 thuê bao; tổng số thuê bao truyền hình trả tiền tại tỉnh 120.607.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0,46% so với tháng trước, tăng 1,48% so với cùng kỳ; tăng 1,55% so với tháng 12 năm trước. Chỉ số giá bình quân 9 tháng so cùng kỳ năm trước tăng 2,05%. Chỉ số giá vàng trong tháng giảm 1,12% so với tháng trước; tăng 9,20% so với tháng 12/2018 và  tăng 12,08% so với cùng kỳ. Chỉ số Đô la Mỹ giảm 4,37% so với tháng trước; giảm 4,76% so với tháng 12/2018 và giảm 4,64% so với cùng kỳ.
6. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 5.650,3 tỷ đồng, đạt 62,78% so với dự toán năm, bằng 95,7% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách nhà nước địa phương ước thực hiện 6.990,9 tỷ đồng, đạt 57,32% so với dự toán năm, tăng 6,44% so với cùng kỳ.
Theo báo cáo của ngành Ngân hàng, tổng nguồn vốn huy động tại chỗ đến cuối tháng 9/2019 ước đạt 32.580 tỷ đồng, so với cuối năm 2018 tăng 2.022 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 6,62%. Dư nợ tín dụng đến cuối tháng 9/2019 ước đạt 70.400 tỷ đồng, so với cuối năm 2018 tăng 9.037 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 14,97%.
Tính đến hết ngày 31/8/2019, số người tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên toàn tỉnh là 832.118 người, tăng 30.299 người (3,78%) so cùng kỳ năm trước, đạt 99,69% kế hoạch BHXH Việt Nam giao năm 2019.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, việc làm
Lực lượng lao động của tỉnh là 596.068 người, trong đó: nữ là 278.955 người; khu vực thành thị là 149.994 người. Tăng 1,05% tương ứng tăng khoảng hơn 2.937 người so với cùng kỳ năm 2018. Lực lượng lao động của tỉnh những năm gần đây có sự chuyển dịch từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị.
Từ đàu năm đến nay đã giải quyết việc làm cho 28.000/35.000 lao động, đạt 80% kế hoạch năm, trong đó xuất khẩu được 70 lao động; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị đạt 3,2% và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn trên 90%; đồng thời, đào tạo nghề cho 7.205/6.000 lao động, đạt 120% kế hoạch năm.
Tổ chức tư vấn, giới thiệu nghề, việc làm cho 13.272 lao động; giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng cho 7.557 lao động; hỗ trợ học nghề cho 138 lao động thất nghiệp.
2. Công tác an sinh xã hội
Công tác giảm nghèo đạt được những kết quả cụ thể như: Hỗ trợ vay vốn ưu đãi tín dụng cho 4.709 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo (dưới 3 năm) 165.151 tỷ đồng; mua và cấp phát 183.224 thẻ BHYT cho người nghèo, người DTTS sinh sống tại các xã thuộc vùng khó khăn, người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người thuộc hộ cận nghèo; hỗ trợ tiền điện cho 8.614 hộ nghèo, với tổng kinh phí là 4,161 tỷ đồng; phân bổ 28 căn nhà tình thương, với tổng trị giá 700 triệu đồng; xây dựng 171 căn nhà Đại đoàn kết cho người nghèo, trị giá 11,835 tỷ đồng; tư vấn pháp lý miễn phí cho 12 người nghèo, người DTTS.
Thực hiện trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng cho 18.687 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng kinh phí là 70. 963.797.000 đồng và đảm bảo 100% đối tượng này đều được cấp thẻ bảo hiểm y tế; trợ giúp đột xuất cho 1.537 người, với tổng kinh phí là 387.180.000 đồng. Trung tâm Dịch vụ việc làm và Bảo trợ xã hội tỉnh tiếp nhận 09 đối tượng, đón tiếp 62 đoàn khách đến thăm và tặng quà, hiện quản lý nuôi dưỡng tập trung 47 đối tượng.
Giải quyết 1.255 hồ sơ đối tượng chính sách người có công với cách mạng. Hỗ trợ xây và sửa chữa 26 căn nhà cho đối tượng chính sách người công với cách mạng, với tổng kinh phí là 1.077.500.000 đồng từ nguồn vận động.
3. Giáo dục, đào tạo
Ngành giáo dục đào tạo đã hoàn thành các nhiệm vụ năm học 2018-2019 theo kế hoạch. Các trường đảm bảo đầy đủ thời gian, nội dung giảng dạy theo chương trình. Công tác phổ cập giáo dục các cấp học, đến cuối năm học có 11/11 huyện/thị xã, thành phố và 111/111 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 110/111 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGDTH mức độ 3; duy trì 111/111 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở; 14/111 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập THPT.
Cơ sở vật chất, tính đến tháng 9/2019, toàn tỉnh có 134/468 trường đạt chuẩn quốc gia (tỷ lệ 28,63% so với tổng số trường), trong đó: Mầm non: 34 trường; Tiểu học: 57 trường; THCS: 28 trường; THPT: 15 trường.
4. Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Công tác mạng lưới y tế, biên chế, đào tạo cán bộ, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị tiếp tục thực hiện theo quy định. Tình hình dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ, nhất là dịch sốt rét, sốt xuất huyết, tay chân miệng; an toàn vệ sinh thực phẩm cơ bản được đảm bảo, không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra.
Trong 9 tháng, toàn tỉnh có 262 ca mắc sốt rét, giảm 69% so cùng kỳ (không có tử vong); 6.733 ca mắc sốt xuất huyết, tăng 146% so với cùng kỳ (tử vong 03 ca, tăng 02 ca so cùng kỳ); 506 ca mắc bệnh tay chân miệng (không có tử vong); số ca mắc bệnh dại là 01 ca, tử vong 01 ca, nguyên nhân do người bệnh không tiêm phòng ngừa khi bị chó cắn. Tình hình sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã xảy ra trên diện rộng và hiện còn diễn biến phức tạp, số ca mắc tăng cao ở hầu hết các huyện, thị xã, thành phố... Trước tình hình trên Ủy ban nhân dân tỉnh đã ra chỉ thị về việc tăng cường công tác phòng, chống sốt xuất huyết trên địa bàn tỉnh; nhằm chủ động trong công tác phòng chống dịch, kiên quyết không để dịch bùng phát, lan rộng và kéo dài.
5. Hoạt động văn hóa, thể thao
- Công tác tuyên truyền: In ấn và trang trí được: 20.853m băng rôn; 24.573m2 panô; 12.827,6m2 panơ, treo 32.959 lượt cờ các loại; 18.000m cờ dây; 6.000m đèn điện tử; phát hành 300 tờ rơi; triển lãm hơn 2.000 hình ảnh, 800 hiện vật về thành tựu kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh và tuyên truyền được 6.450 giờ trên hệ thống đèn điện tử; 858 giờ bằng xe tuyên truyền lưu động.
- Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc: Tổ chức giao lưu nhân chứng lịch sử trưng bày chuyên đề “Đường Trường Sơn - Con đường huyền thoại”; Lễ Khánh thành giai đoạn 2 Di tích quốc gia đặc biệt Căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (Tà Thiết) và họp mặt truyền thống Bình Phước - Bình Dương (Sông Bé) nhân kỷ niệm 44 năm Ngày giải phóng tỉnh Bình Phước (23/3/1975 - 23/3/2019). Đón tiếp 673 đoàn và thu hút hơn 106.971 lượt khách (trong đó Di tích Căn cứ Tà Thiết đón 232 đoàn, với hơn 22.633 lượt khách).
- Nghệ thuật biểu diễn và hoạt động quần chúng: Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh tổ chức được 85 buổi biểu diễn phục vụ hơn 60.510. lượt người xem. Trung tâm Văn hóa tỉnh tuyên truyền lưu động phục vụ cơ sở được 84 buổi, thu hút hơn 27.800 lượt khán giả; chiếu phim lưu động phục vụ nhân dân được 491 buổi, phục vụ hơn 59.730 lượt người xem.
- Hoạt động thư viện: Thư viện tỉnh đã bổ sung trên 13.000 bản sách, trong đó vận động tài trợ 7.000 bản sách, cấp 124 thẻ thư viện (cấp mới 78 thẻ và gia hạn 46 thẻ), phục vụ được 1.058.620 lượt bạn đọc, luân chuyển 163.344 lượt sách, báo, tạp chí.
- Thể dục thể thao: Các đội tuyển thể thao tỉnh tham gia 55 giải thể thao quốc tế, toàn quốc và khu vực đạt 55 HCV, 72 HCB, 131 HCĐ. Câu lạc bộ Bóng đá tỉnh tham dự giải bóng đá Hạng Nhất Quốc gia năm 2019, kết quả qua 20 vòng đấu câu lạc bộ đứng thứ 3 trên bảng xếp hạng.
- Hoạt động du lịch: Với lượt khách tham quan khoảng 849.340 lượt khách (tăng 170% so với cùng kỳ 2018). Trong đó: Khách nội địa: 818.420 lượt khách (tăng 171%); khách quốc tế: 30.920 lượt khách (tăng 140%); doanh thu đạt khoảng 535 tỷ đồng (tăng 104% so với cùng kỳ 2018).
6. Tai nạn giao thông
Trong tháng 9/2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông làm 12 người chết, 3 người bị thương. So với cùng kỳ, số vụ tai nạn giao thông tháng giảm 45,45%; số người chết tăng 9,09%; số người bị thương giảm 86,36%. Tính chung 9 tháng năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 181 vụ tai nạn giao thông, làm 122 người chết, 127 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 7,18%; số người chết giảm 12,23%; số người bị thương giảm 3,64%.
Chín tháng, lực lượng cảnh sát giao thông đã phát hiện 15.464 trường hợp vi phạm TTATGT, tạm giữ 3.189 phương tiện, tước 1.256 GPLX, cảnh cáo 251 trường hợp, xử lý hành chính 15.210 trường hợp. Số tiền nộp kho bạc nhà nước 12,1 tỷ đồng.
7. Thiệt hại thiên tai
Do mưa to kèm gió lốc xoáy đã làm 1 người chết, 116 căn nhà bị tốc mái và 3 căn bị ngập hoàn toàn trong nước lũ, thiệt hại 309,7 ha cây lâu năm, 6,35 ha nuôi cá thiệt hại trên 70%, 02 cái cống bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong 9 tháng ước tính khoảng 12,8 tỷ đồng.
8. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường
Trong tháng 9/2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ cháy làm thiệt hại 180 triệu đồng. Tính chung từ đầu năm, cả tỉnh đã xảy ra 10 vụ cháy không có thiệt hại về người, giảm 47,37% so với cùng kỳ; giá trị thiệt hại ước 914 triệu đồng. Các cơ quan chức năng đã phát hiện 194 vụ vi phạm môi trường, tiến hành xử lý 118 vụ vi phạm với số tiền xử phạt là 772 triệu đồng.
Đánh giá chung:
Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2019 của tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực.
Sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục duy trì nhịp độ tăng trưởng khá, cùng với sự phát triển doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng đi đôi với việc thực hiện tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát và nhu cầu tiêu dùng, sức mua của xã hội; Giao thông vận tải đảm bảo nhu cầu vận chuyển hàng hoá và nhu cầu đi lại của nhân dân.
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, công tác giải quyết việc làm và đào tạo nghề đạt chỉ tiêu đề ra; công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo được các cấp các ngành và toàn xã hội quan tâm; công tác văn hoá xã hội có nhiều hoạt động thiết thực; chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng lên; công tác khám chữa bệnh vẫn được duy trì tốt; công tác chăm lo cho đồng bào dân tộc thiểu số luôn được quan tâm.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi cũng còn những khó khăn, hạn chế như: Mưa to, lốc xoáy gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống nhân dân; sản xuất vụ Đông xuân và vụ Mùa giảm so với cùng kỳ; giá cả các mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh như điều, cao su, hồ tiêu tiếp tục giảm, khả năng hồi phục chậm; dịch tả lợn Châu Phi diễn ra phức tạp, lây lan trên diện rộng; tình hình sốt xuất huyết tăng cao và diễn biến phức tạp ở hầu hết các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp.
Trên đây là một số tình hình cơ bản về kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước 9 tháng năm 2019./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê tỉnh Bình phước