Tình hình kinh tế xã hội ước cả năm 2018

Thứ sáu - 04/01/2019 10:15 3.619 0
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 của tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực. Sản xuất nông nghiệp đã vượt qua khó khăn và duy trì sự phát triển; sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục duy trì nhịp độ tăng trưởng khá, cùng với sự phát triển doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng đi đôi với việc thực hiện tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát và nhu cầu tiêu dùng, sức mua của xã hội; Giao thông vận tải đảm bảo nhu cầu vận chuyển hàng hoá và nhu cầu đi lại của nhân dân.
Năm 2018 là năm bản lề của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và không ít những khó khăn, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch đề ra theo nghị quyết của HĐND tỉnh; đồng thời với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự đồng thuận của nhân dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện các nhóm giải pháp nhằm khắc phục khó khăn, giữ vững ổn định và phát triển kinh doanh… Do đó tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục duy trì sự ổn định, kinh tế tiếp tục tăng trưởng, tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 7,63%; thu ngân sách tăng 9% so với dự toán HĐND tỉnh, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường luôn được quan tâm, quốc phòng, an ninh được bảo đảm. Tuy vậy, kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2018 cho thấy, kinh tế - xã hội của tỉnh còn gặp phải những khó khăn như: mưa nhiều, lốc xoáy gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống nhân dân; giá cả một số mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh giảm so với cùng kỳ năm trước; tiến độ thi công một số công trình trọng điểm chậm; các doanh nghiệp còn khó khăn, nhất là doanh nghiệp chế biến điều; các hoạt động y tế triển khai còn chậm, chưa đẩy mạnh chuyển giao các kỹ thuật mới trong khám chữa bệnh.Trên cơ sở số liệu 11 tháng và ước tính tháng 12 năm 2018, Cục Thống kê sơ bộ phân tích đánh giá tình hình kinh tế xã hội năm 2018 trên một số lĩnh vực như sau:
- Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) (theo giá so sánh 2010) ước 42.067 tỷ đồng, tốc độ phát triển của GRDP tăng 7,63% so cùng kỳ năm trước.  
- GRDP bình quân đầu người ước đạt 58,03 triệu đồng/người/năm, tăng 9,38% so với cùng kỳ năm 2017.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện năm 2018 là 7.658 tỷ đồng, tăng 36,33% so với năm 2017.
- Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 57.592 tấn, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm 2017.
- Ước cả năm 2018 tổng vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 2.030 tỷ đồng, tăng 39,08% so với cùng kỳ năm trước.
 - Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2018 ước thực hiện 34.289,6 tỷ đồng, tăng 16,59% so với cùng kỳ năm trước.
- Cả năm giải quyết việc làm cho 38.790 lao động; Đào tạo nghề cho 10.594 lao động; tư vấn, giới thiệu nghề, việc làm cho 12.188 lao động; giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp cho 7.257 lao động.
- Năm 2018 thu hút được 32 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động với tổng vốn đăng ký là 340,414triệu USD.
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) (theo giá so sánh 2010) ước thực hiện năm 2018 đạt 42.067 tỷ đồng, tăng 7,63% so cùng kỳ năm trước. Chia ra: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 11.884 tỷ đồng, tăng 6,01% ; khu vực công nghiệp và xây dựng 13.439 tỷ đồng, tăng 12,31%; khu vực dịch vụ 14.911 tỷ đồng, tăng 4,44% và thuế sản phẩm 1.833 tỷ đồng, tăng 12,26%. Trong mức tăng 7,63% chung của toàn tỉnh, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,01%, đóng góp 2,16 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,31%, đóng góp 2,44 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 4,44%, đóng góp 2,7 điểm phần trăm và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 12,26%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm.
Về cơ cấu tổng sản phẩm trong năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 24,93% GRDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 36,73%; khu vực dịch vụ chiếm 34,32%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 4,02% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2017 là: 26,10%; 36,01%; 34,75%; 3,14%).
GRDP bình quân đầu người ước đạt 58,03 triệu đồng/người/năm, tăng 9,38% so với cùng kỳ năm 2017.
2. Tài chính, ngân hàng
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước năm 2018 là 7.658 tỷ đồng, đạt 109% so với dự toán điều chỉnh HĐND tỉnh thông qua, tăng 36,33% so với cùng kỳ, cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ổn định và phát triển. Chi ngân sách đảm bảo đúng quy định, đáp ứng cơ bản các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương năm 2018 ước thực hiện 9.725,679 tỷ đồng, đạt 95% so với dự toán điều chỉnh HĐND tỉnh thông qua, tăng 16,43% so với cùng kỳ.
Hoạt động tiền tệ, tín dụng năm 2018 ổn định và tăng trưởng khá, lãi suất cho vay có nhiều ưu đãi đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng quy mô sản xuất; tổng nguồn vốn huy động tại chỗ đến cuối năm 2018 ước đạt 31.000 tỷ đồng, tăng 5,72% so cùng kỳ năm trước; dư nợ tín dụng đến cuối năm 2018 ước đạt 62.300 tỷ đồng, tăng 25,50% so với cùng kỳ năm trước. 
3. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2018 giảm 0,48% so với tháng trước, tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá bình quân quý IV so cùng kỳ năm trước tăng 0,62%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân cả năm tăng 5,65% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó nhóm Thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 6,59%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 0,36%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,28%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,19%; bưu chính viễn thông tăng 0,11%; giáo dục tăng 0,03%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng giảm so với cùng kỳ như : hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,88%; giao thông giảm 0,99%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,05%.
Chỉ số giá vàng tháng 12/2018 tăng 0,37% so với tháng trước, tính chung cả năm 2018 chỉ số giá vàng tăng 3,06% so với năm 2017. Chỉ số Đô la Mỹ tháng 12/2018 giảm 0,04% so với tháng trước, tính chung cả năm 2018 chỉ số Đô la Mỹ tăng 1,90% so với năm 2017.
4. Đầu tư, xây dựng
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 12/2018 ước tính đạt 244,5 tỷ đồng, tăng 7,81% so với tháng trước. Tính chung cả năm 2018, vốn ngân sách Nhà nước ước tính đạt 2.029,997 tỷ đồng, bằng 62,98% kế hoạch năm và tăng 39,08% so với cùng kỳ năm trước, gồm có: Vốn ngân sách cấp tỉnh 1.047,788 tỷ đồng, bằng 66,75% kế hoạch năm và tăng 2,80%; vốn ngân sách cấp huyện 982,209 tỷ đồng, bằng 58,60% kế hoạch năm và tăng 123,08% so với cùng kỳ năm trước.
Về thu hút FDI: Năm 2018 toàn tỉnh đã thu hút được 32 dự án với tổng vốn đăng ký là 340,414 triệu USD, tăng 60% về số dự án và tăng 234% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. 
Hoạt động xây dựng quý IV và cả năm 2018 có dấu hiệu chuyển biến tích cực. Ngay từ các tháng đầu năm, nhiều công trình giao thông được các nhà thầu tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ để sớm đưa vào sử dụng.
Giá trị sản xuất xây dựng quý IV theo giá hiện hành ước đạt 4.011,5 tỷ đồng, năm 2018 ước đạt 12.688,8 tỷ đồng, bao gồm: Khu vực ngoài Nhà nước 3.703,5 tỷ đồng, chiếm 29,19%; loại hình khác 8.985,3 tỷ đồng, chiếm 70,81%.  
Giá trị sản xuất xây dựng quý IV theo giá so sánh ước đạt 2.742,2 tỷ đồng, tăng 16,54% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2018 ước đạt 8.698,7 tỷ đồng, tăng 1,02% so với năm 2017. 
5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Trong năm 2018 đã cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 1.000 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký 13.800 tỷ đồng, tăng 12% về số doanh nghiệp, tăng 30,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017 và đạt 111% kế hoạch năm, có 691 doanh nghiệp ngừng, nghỉ, giải thể, phá sản và số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trước thời hạn là 35 doanh nghiệp. 
6. Sản xuất công nghiệp
Trong năm 2018 tình hình sản xuất công nghiệp của tỉnh duy trì ổn định ở mức tăng trưởng khá (+12,03%), trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành (12,52%). Các sản phẩm sản xuất ngày càng đa dạng, phong phú, sản phẩm tập chung ở nhiều lĩnh vực. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu ngành công nghiệp, cụ thể:
- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12/2018 ước đạt 101,30% so với tháng trước và 134,06% so với cùng kỳ năm trước, tức là tăng 1,305% so với tháng trước và tăng 34,06% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước đạt 102,05% so với cùng kỳ năm trước, tức là tăng 2,05%. Tính chung cả năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 12,03% so với cùng kỳ năm trước. 
- Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất năm 2018 tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 177,77%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 35,21%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 34,03%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 33,02%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 2,02%; khai khoáng khác tăng 1,38%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 0,61%; sản xuất đồ uống giảm 32,07%; sản xuất xe có động cơ giảm 14,22%.
- Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2018 tăng 0,55% so với tháng trước và giảm 21,72% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 12 tháng năm 2018, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 10,79% so với cùng kỳ năm trước.
- Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2018 giảm 10,71% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: Sản xuất kim loại giảm 44,46%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 22,73%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 18,01%; Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 16,41%; Sản xuất trang phục giảm 15,42%; Sản xuất đồ uống giảm 3,10%.
- Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp tháng 12/2018 không tăng so với tháng trước, giảm 8,14% so với tháng cùng kỳ năm trước, cộng dồn 12 tháng giảm 5,87% so với cùng kỳ năm trước. 
* Phát triển điện năng
Trong năm 2018 phát triển được 108km đường dây trung thế, 26 km đường dây hạ thế và 84.186 KVA dung lượng trạm biến áp; Ước số hộ có sử dụng điện tăng thêm trong năm là 2.300 hộ.
7. Thương mại, dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2018 ước tính đạt 3.604,029 tỷ đồng, tăng 0,89% so với tháng trước và tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 10.731,053 tỷ đồng, tăng 6,78% so với cùng kỳ năm trước. 
Tính chung cả năm 2018 tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước thực hiện được 42.806,733 tỷ đồng, đạt 98,41% so kế hoạch và tăng 13,35% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 34.289,58 tỷ đồng, tăng 16,59% (trong đó, ngành hàng vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 29,46%; lương thực, thực phẩm tăng 23,25%; may mặc tăng 18,73%); doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 4.952,826 tỷ đồng, tăng 2,32%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 8,717 tỷ đồng, giảm 0,31%; doanh thu dịch vụ khác đạt 3.555,61 tỷ đồng, tăng 1,40%. 
Hoạt động vận tải phát triển ổn định, về cơ bản đã đáp ứng tốt nhu cầu đi lại thư-ờng xuyên của nhân dân trên địa bàn tỉnh. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tại tháng 12 năm 2018 ước thực hiện 142,2 tỷ đồng, tăng 0,21% so với tháng trước và tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV ước thực hiện 425,9 tỷ đồng, tăng 6,14% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2018 ước thực hiện 1.678,2 tỷ đồng, tăng 6,29% so với cùng kỳ, trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước thực hiện 1.002,5 tỷ đồng, tăng 5,96% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước thực hiện 657,5 tỷ đồng, tăng 6,53%; dịch vụ hỗ trợ vận tải ước thực hiện 18,2 tỷ đồng, tăng 16,37%. 
Về hoạt động Bưu chính viễn thông: Tính đến cuối năm 2018 toàn tỉnh có 149 điểm phục vụ (53 bưu cục, 54 bưu điện văn hóa xã và 42 thùng thư công cộng); Bán kính phục vụ bình quân đạt 3,83km, đáp ứng 100% số xã được phục vụ bưu chính. Theo thống kê từ các doanh nghiệp viễn thông đến cuối năm 2018 toàn tỉnh ước có 1.118.600 thuê bao điện thoại, tăng 0,2% so với năm 2017. Về Internet và truyền hình trả tiền tính đến cuối năm 2018 có: 158.000 thuê bao Internet, tăng 9% so với năm 2017. Số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã có đường truyền cáp quang, Internet công nghệ 3G, 4G đạt 100% đã phủ sóng. Tổng số thuê bao truyền hình trả tiền tại tỉnh 156.993 thuê bao so với năm 2017 tăng 130%.
8. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới
8.1. Sản xuât nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong năm 2018 tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, do thời tiết mưa nhiều, nhiệt độ luôn ẩm thấp phát sinh nhiều sâu bệnh đã làm ảnh hưởng tới việc gieo trồng cũng như năng suất, sản lượng của tất cả các loại cây trồng. 
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh sơ bộ đạt 37.857 ha, giảm 7,57% so cùng kỳ năm trước, trong đó: Nhóm cây lúa gieo trồng đạt 12.079 ha, giảm 0,63% so với cùng kỳ; năng suất đạt 34,68 tạ/ha, sản lượng đạt 41.890 tấn (tăng 5,71%); nhóm cây bắp và cây lương thực có hạt gieo trồng được 4.201 ha, giảm 8,09% so cùng kỳ năm trước, năng suất đạt 37,38 tạ/ha, sản lượng đạt 15.695 tấn (giảm 8,26% so cùng kỳ năm trước); nhóm cây lấy củ có chất bột 14.497 ha, giảm 15,67% so cùng kỳ năm trước; nhóm cây có hạt chứa dầu: 443 ha, tăng 16,27% so cùng kỳ;...
Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2018 đạt 57.592 tấn, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm 2017.
Năm 2018, tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm trên địa bàn tỉnh thực hiện được 420.156 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cây ăn quả các loại hiện có 10.171 ha, tăng 13,63% (+1.220 ha) so với cùng kỳ năm trước;  đối với cây công nghiệp lâu năm hiện có 409.162 ha, tăng 1,01% (+4.073 ha) so với cùng kỳ năm 2017. Chia ra: Cây điều 138.174 ha, tăng 3.872 ha, sản lượng đạt 125.224 tấn, tăng 29,35%; Cây hồ tiêu 16.987 ha, giảm 191 ha, sản lượng đạt 24.306 tấn, giảm 9.462 tấn; Cây cao su 238.498 ha, tăng 930 ha, sản lượng đạt 352.619 tấn, tăng 22.130 tấn; cây cà phê 15.503 ha, giảm 538 ha, sản lượng đạt 32.520 tấn, tăng 769 tấn so cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong năm 2018 phát triển tương đối ổn định. Chăn nuôi gia súc theo hình thức công nghiệp, tập trung quy mô lớn đang có chiều hướng phát triển. Tính đến thời điểm 01/10/2018 tổng đàn trâu trên địa bàn toàn tỉnh là 12.881 con, tăng 2,69% (+337 con) so với cùng kỳ năm 2017; tổng đàn bò 37.520 con, tăng 4,67% (+1.675 con); tổng đàn lợn 507.467 con, tăng 43,36% (+153.496 con); đàn gia cầm 5.267 nghìn con, tăng 7,69% so với cùng kỳ năm trước. 
Sản lượng thịt trâu hơi đạt 1.210 tấn, tăng 6,89% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi đạt 2.754 tấn, tăng 2,52%; sản lượng thịt lợn hơi đạt 53.388 tấn, tăng 19,93%; thịt gia cầm đạt 17.900 tấn, tăng 6,55%; trứng gia cầm đạt 115.700 nghìn quả, giảm 7,74%.
Các hoạt động trồng mới rừng tập trung, chăm sóc, nuôi dưỡng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng cây lâm nghiệp phân tán, khai thác gỗ, lâm sản trên địa bàn tỉnh năm 2017 đã được triển khai thực hiện tốt theo kế hoạch ngay từ đầu năm. Ước tính năm 2018 diện tích rừng trồng mới tập trung là 391 ha, giảm 95 ha so với cùng kỳ; diện tích rừng trồng được chăm sóc là 4.023 ha, giảm 108 ha so cùng kỳ; diện tích rừng trồng được khoanh nuôi tái sinh là 326 ha; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 589 ha. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 18.983 m3, so cùng kỳ giảm 50,71%; sản lượng củi ước đạt 9.410 ster, giảm 55,25%.
Sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản năm 2018 có dấu hiện suy giảm so với những năm trước. Sản lượng thủy sản năm 2018 ước đạt 5,32 nghìn tấn, giảm 5,76% so với cùng kỳ năm trước (trong đó cá đạt 5,31 nghìn tấn, giảm 5,76%), chia ra: sản lượng nuôi trồng 4,95 nghìn tấn, giảm 5,41%; sản lượng thủy sản khai thác 0,37 nghìn tấn, giảm 10,32%. 
8.2. Về nông thôn mới
Trương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đến cuối năm 2018, có Thành phố Đồng Xoài, thị xã Phước Long hoàn thành kế hoạch nông thôn mới; có 36/92 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 39,1%. Trong năm có 9 xã về đích nông thôn mới đạt 100% kế hoạch năm.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, việc làm và đời sống dân cư
Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2018 ước 979.570 người, tăng 1,1% so với năm 2017. Toàn tỉnh ước có 594.109 lao động, trong đó có 97,30% đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh, tập trung chủ yếu ngành sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (chiếm 50,78%).
Ước năm 2018, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 38.790 lao động, đạt 129,3% kế hoạch năm, tăng 3,56% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó xuất khẩu được 125 lao động. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị đạt 3,2%; duy trì tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn trên 90%, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 52%. Đào tạo nghề cho 10.594 lao động, đạt 176,6% kế hoạch năm.
Tổ chức tư vấn, giới thiệu nghề, việc làm cho 12.188 lao động; giải quyết hưởng bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng cho 7.257 lao động; trợ học nghề cho 209 lao động hỗ thất nghiệp; tổ chức 05 phiên giao dịch việc làm thu hút 57 doanh nghiệp và 3.788 lao động tham gia.
Nhìn chung đời sống dân cư năm 2018 có nhiều cải thiện về mặt tinh thần cũng như về vật chất, văn hoá, giáo dục phát triển toàn diện, các chính sách xã hội được chú trọng, tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo. Các chế độ tiền lương, chính sách đối với đời sống cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên địa bàn tỉnh vẫn được đảm bảo, chế độ nâng lương định kỳ, bảo hiểm xã hội… góp phần ổn định hơn về đời sống vật chất, tinh thần, yên tâm trong công tác. Từ tháng 7/2018, lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang tăng từ 1.300.000 đ/tháng lên 1.390.000đ/tháng (Nghị định 141/2017/NĐ-CP) đã góp phần nâng cao thu nhập cho cán bô, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. 
Trong năm đã xảy ra đói giáp hạt trên địa bàn tỉnh, cụ thể huyện Đồng Phú với hình thức hỗ trợ bằng gạo cho những hộ dân có hoàn cảnh khó khăn mùa giáp hạt, nguyên nhân là do mất mùa, bên cạnh đó có những hộ dân không có đất sản xuất, thiếu lương thực, người già yếu, neo đơn, trẻ em mồ côi, tàn tật… là 38 hộ (84 nhân khẩu), với tổng số gạo được hỗ trợ 1.440 kg. 
2. Công tác an sinh xã hội
Trong năm khảo sát, xây dựng 02 mô hình giảm nghèo tại 02 xã có tỷ lệ nghèo cao thuộc huyện Lộc Ninh và thị xã Phước Long; phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh vận động, phân bổ 511 căn nhà cho hộ nghèo, hộ nghèo dân tộc thiểu số khó khăn về nhà ở, với tổng số tiền là 28,21 tỷ đồng. An sinh xã hội luôn được coi là nhiệm vụ thường xuyên và cấp bách cần thực hiện. Kết quả đạt được về công tác giảm nghèo trong năm 2018, cụ thể: giảm 0,75% tỷ lệ hộ nghèo, đạt 150% kế hoạch giao. 
3. Công tác thực hiện chính sách ưu đãi người có công 
Giải quyết 1.352 hồ sơ, trong đó giải quyết hồ sơ công nhận mới 456 hồ sơ và 657 hồ sơ mai táng phí các loại; thực hiện di chuyển 246 hồ sơ người có công đi ngoài tỉnh và tiếp nhận 242 hồ sơ người có công từ tỉnh khác chuyển đến.
Phối hợp với các ngành liên quan tổ chức Lễ truy điệu, an táng 127 hài cốt liệt sỹ được quy tập từ Campuchia và trong nước về an táng tại Nghĩa trang liệt sỹ tỉnh; phục vụ Lễ truy tặng Danh hiệu vinh dự nhà nước cho 19 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và tặng thưởng 08 Huân chương độc lập đối với gia đình liệt sỹ
4. Giáo dục, đào tạo
Trong năm 2018 toàn ngành giáo dục và đào tạo đã tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của tỉnh. Kết quả năm học 2017-2018 đạt nhiều thành tích nổi bật: tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt 98,21%; 99,18% học sinh tiểu học được xếp loại “Hoàn thành” môn Tiếng Việt và Toán, 55,9% học sinh THCS và 64,4% học sinh THPT xếp loại học lực Khá-Giỏi; 746 học sinh đạt giải tại kỳ thi học sinh giỏi THPT cấp tỉnh;  tại kỳ thi học sinh giỏi THPT cấp quốc gia, đội tuyển học sinh tỉnh Bình Phước đạt 54 giải, gồm 01 giải Nhất, 12 giải Nhì, 17 giải Ba và 24 giải Khuyến khích; đặc biệt đây là năm học đầu tiên tỉnh Bình Phước có học sinh đạt Huy chương Vàng môn Vật lý trong kỳ thi Olympic châu Á-Thái Bình Dương và huy chương Đồng tại kỳ thi Olympic Vật lý quốc tế - IphO 2018.
Tiếp tục duy trì công tác phổ cập giáo dục, xoá mù chữ tại các địa phương, đến nay, có 11/11 huyện/thị xã và 111/111 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 23/111 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGDTH mức độ 2 và 88/111 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn PCGDTH mức độ 3; duy trì 111/111 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở; 9/111 xã, phường, thị trấn đạt phổ cập THPT. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được tiếp tục đẩy mạnh, ước đến cuối năm 2018 có 135/476 trường được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 28,36%.
5. Hoạt động y tế
Năm 2018, thời tiết diễn biến thất thường, tình hình các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên người ngày càng gia tăng, có diễn biến phức tạp, cụ thể: Tổng số mắc sốt rét 1.162 cas, tăng 23,3% so với cùng kỳ năm trước; tổng số mắc sốt xuất huyết là 3.760 ca, tăng 50,5% so với cùng kỳ; tổng số ca mắc bệnh chân, tay, miệng trong tháng 1.650 ca; bệnh sởi và sốt phát ban nghi sởi là 17 ca, tăng 16 ca so cùng kỳ, không có tử vong; viêm não nhật bản 03 ca, không có ca nhiễm não mô cầu; bệnh dại mắc 01 ca, tử vong 01 ca. 
Tổng số người nhiễm HIV mới phát hiện 72 ca, giảm 59% so với cùng kỳ năm trước; số người bị HIV tích lũy 3.078 ca;
Tổng số người bị AIDS mới phát hiện 53 ca, giảm 37%; số người bị AIDS tích lũy 1.153 ca. Tử vong mới 03 ca, giảm 40% so với cùng kỳ;
Tổng số mẫu giám sát: ước cả năm 2018 là 15.000, đạt 100%;
Tổng số bệnh nhân đang điều trị ARV tính 752 ca.
Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được quan tâm, ngành chức năng thường xuyên, tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra về ATVSTP đạt tiêu chuẩn, đạt 98%. 
6. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong năm 2018, ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã tập trung tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương. 
Công tác tuyên truyền: Kết quả đã thực hiện được 27.263m băng rôn, 30.199m2 panô, 13.200,8m2 banner, treo 31.805 lượt cờ các loại, 54.650m cờ dây, 6.000m đèn dây điện tử, phát hành 44 CD ma-két hướng dẫn nghiệp vụ và 600 tờ rơi, tổ chức và tham gia 24 cuộc triển lãm với gần 1.000 hình ảnh về thành tựu kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh, tuyên truyền được 5.976 giờ trên hệ thống đèn điện tử và 1.938 giờ bằng xe tuyên truyền lưu động.
Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc: Tổ chức trưng bày chuyên đề “Thi hành Hiệp định Paris - 45 năm nhìn lại qua tư liệu lịch sử” và chương trình “Điểm hẹn di sản văn hóa”; trưng bày hình ảnh các di tích đã xếp hạng trên địa bàn tỉnh tại Lễ đón nhận văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Hạt điều Bình Phước”; Lễ công bố bảo vật quốc gia Đàn đá Lộc Hòa; Sưu tầm hiện vật là công cụ lao động sản xuất truyền thống của người Mnông, Châu Mạ, S’tiêng, Khmer trên địa bàn huyện Lộc Ninh; sưu tầm được 08 hiện vật, tư liệu, hình ảnh về đoạn cuối đường mòn Hồ Chí Minh...
Nghệ thuật biểu diễn và hoạt động quần chúng: Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh tổ chức được 95 buổi biểu diễn phục vụ khoảng 45.050 lượt người xem. Tham gia Liên hoan Ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc năm 2018 tại Đà Nẵng, kết quả đạt 01 huy chương vàng, 02 huy chương bạc. Trung tâm Văn hóa tỉnh xây dựng 07 chương trình, tổ chức được 114 buổi biểu diễn thông tin lưu động, phục vụ khoảng 33.000 lượt người xem. Tham gia 03 Liên hoan, Hội thi cấp toàn quốc và khu vực gồm Liên hoan Tiếng hát miền Đông lần thứ 18 năm 2018 đạt 01 huy chương vàng, 05 huy chương bạc; Hội thi sân khấu kịch ngắn, kịch vui không chuyên toàn quốc với kịch bản “Rác”, kết quả đạt 03 huy chương vàng, 02 huy chương bạc; Hội diễn Đàn, hát dân ca toàn quốc trong khuôn khổ Năm Du lịch quốc gia, kết quả đạt 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc. 
Hoạt động thư viện: Duy trì trao đổi báo, tạp chí với Thư viện các tỉnh thuộc Liên hiệp Thư viện miền Đông Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Tổ chức 38 đợt trưng bày với 3.500 sách, báo, tạp chí phục vụ nhiệm vụ chính trị. Trong năm 2018, Thư viện tỉnh phục vụ được 279.486 lượt bạn đọc, luân chuyển 143.894 lượt sách, báo, tạp chí; cấp mới 85 thẻ và gia hạn 56 thẻ bạn đọc thư viện. 
Hoạt động chiếu bóng: Triển khai 03 đội chiếu bóng lưu động tổ chức chiếu phim phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, cán bộ và chiến sĩ bộ đội biên phòng và vùng biên giới được 506 buổi chiếu, thu hút khoảng 55.175 lượt người xem. Rạp chiếu phim đã tổ chức được 307 xuất chiếu với khoảng 2.934 lượt người đến xem. Phát hành 4.500 đĩa VCD-DVD phim tài liệu tuyên truyền.
Thể dục thể thao: Tổ chức trận bóng đá giao hữu với Câu lạc bộ Bóng đá Hoàng Anh Gia Lai, thu hút khoảng 20.000 khán giả và trận Bóng đá giao hữu với câu lạc bộ SHB Đà Nẵng. Đăng cai tổ chức giải vô địch Đẩy gậy toàn quốc lần thứ XII và giải vô địch Kéo co toàn quốc; giải Vô địch Taekwondo các câu lạc bộ mạnh toàn quốc năm 2018; giải Vô địch Cờ tướng cụm miền Đông Nam Bộ. Trong năm, các đội tuyển của tỉnh tham gia 57 giải thể thao cụm, khu vực và toàn quốc, kết quả đạt 65 HCV, 86 HCB, 144 HCĐ, 15 kiện tướng, 09 dự bị kiện tướng, 85 cấp I. 
Hoạt động du lịch: Làm việc với các cơ sở lưu trú du lịch về nhu cầu tham gia lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. Thao mưu tổ chức đoàn FAMTRIP khảo sát tuyến du lịch qua cửa khẩu Quốc tế Hoa Lư. Hoạt động du lịch năm 2018 với lượt khách tham quan đạt 445.748 lượt khách; doanh thu đạt 365,7 tỷ đồng.
 7. Tai nạn giao thông
Trong tháng 12/2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông, làm 09 người chết, 11 người bị thương. Tính chung cả năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 262 vụ tai nạn giao thông, làm 180 người chết, 189 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông năm 2018 giảm 6,43%; số người chết tăng 13,21%; số người bị thương giảm 21,58%.
Trong năm, lực lượng cảnh sát giao thông đã phát hiện lập biên bản xử lý 71.447 trường hợp, tổng số tiền xử phạt 44,9 tỷ đồng. 
8. Thiệt hại thiên tai
Tình hình thiệt hại thiên tai trong tháng 12/2018 không xảy ra. Tính chung cả năm 2018, toàn tỉnh đã xảy ra 09 đợt thiên tai, những cơn mưa to kèm theo gió lốc xoáy làm thiệt hại: 84 căn nhà; 02 người bị thương; 235,03 (ha) cây công nghiệp lâu năm; 0,3 (ha) cây hàng năm; 3,5 (ha) diện tích ao hồ. Ước tính tổng số tiền thiệt hại do thiên tai gây ra trên địa bàn tỉnh 31,86 tỷ đồng.
 9. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường
Trong tháng 12/2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy làm 06 người chết, 02 người bị thương, giá trị thiệt hại ước 1.000 triệu đồng. Tính chung cả năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 27 vụ cháy, làm 06 người chết, 04 người bị thương, giá trị thiệt hại ước 8.152 triệu đồng, trong đó vụ cháy nghiêm trọng xảy ra ngày 22/11 tại xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành làm 06 người chết.
Trong tháng 12/2018, các cơ quan chức năng đã phát hiện 10 vụ vi phạm môi trường, tiến hành xử lý 8 vụ vi phạm với số tiền xử phạt nộp Kho Bạc là 21 triệu đồng. Tính chung cả năm 2018 đã phát hiện 161 vụ vi phạm môi trường, tiến hành xử lý 68 vụ với tổng số tiền 273,5 triệu đồng. 
Trên đây là một số tình hình cơ bản về kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước trong năm 2018./.

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây